May 102012
 

cachienphap Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung phần liên quan đến chương I   Hiến pháp năm 1992(khoahocphaply.vn – phaply.com.vn) – Trước khi đưa ra những đề xuất cụ thể về sửa đổi, bổ sung các điều khoản của Hiến pháp 1992, chúng ta cần phải trả lời một câu hỏi hết sức nghiêm túc là: Có nên có một mô hình Hiến pháp mới? Nói cụ thể hơn, chúng ta sẽ sửa đổi Hiến pháp hiện hành theo hướng nào? Theo chính thể nào? Trên thế giới có các mô hình điển hình như cộng hoà tổng thống hay cộng hoà đại nghị, mỗi mô hình đều có những ưu điểm và những hạn chế nhất định. Tuy nhiên, cần nhìn nhận vấn đề một cách thực tế rằng, với thể chế của chúng ta hiện nay thì việc theo một trong hai mô hình chính thể này đều là điều khó xảy ra1. Mặt khác, mô hình Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập cũng có rất nhiều ưu việt so với các mô hình chính thể nói trên, phù hợp với điều kiện Việt Nam. Vì thế, chúng ta hoàn toàn có thể cải cách Hiến pháp năm 1992 trên cơ sở phát triển các quan điểm, tư tưởng của Hiến pháp năm 1946, phù hợp với bối cảnh hiện nay. Với nhận thức và quan điểm đó, chúng tôi xin có một số đề xuất bước đầu cho việc nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp hiện hành – phần liên quan đến quyền lực nhà nước và tổ chức thực thi quyền lực nhà nước (Chương I).

1. Quyền lực nhà nước và tổ chức thực thi quyền lực nhà nước

Quyền lực nhà nước (QLNN) bắt nguồn từ nhân dân và là một bộ phận của quyền lực xã hội. Điều này đúng từ bản chất bên trong đến sự biểu hiện bên ngoài của QLNN. Vì QLNN vốn cũng là một loại quyền lực trong xã hội và thuộc một bộ phận dân cư trở thành một thứ quyền lực công đối với toàn xã hội. Từ đó, nó là thứ quyền lực đặc biệt nhất – thứ quyền lực đứng trên tất cả các quyền lực khác, bởi nhà nước là một bộ máy công quyền, được mang sứ mệnh đại diện chính thức cho toàn xã hội, nhân danh xã hội điều hành, cai quản xã hội.

QLNN có nguồn gốc từ nhân dân, mang bản chất nhân dân và phục vụ nhân dân. Mặc dù vậy, không phải lúc nào QLNN cũng đạt được những mục tiêu cao cả là phục vụ nhân dân, vì có khi chúng bị tha hóa trở thành quyền lực  riêng của kẻ mạnh thống trị xã hội. Đặc biệt là QLNN trong các xã hội nô lệ, phong kiến đã trở thành vũ khí nô dịch của kẻ giàu đối với người nghèo, của kẻ nắm quyền lực đối với những người thuộc tầng lớp dưới.

Trong điều kiện hiện đại, nhất là trong các xã hội dân chủ, nhà nước pháp quyền (NNPQ) thì QLNN ít bị tha hóa hơn, bản chất gần dân của QLNN ngày càng rõ nét hơn. Hiến pháp của hầu hết các nước có NNPQ hiện đại đều khẳng định một nguyên tắc hiến định là mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, thể hiện QLNN bắt nguồn từ nhân dân và để phục vụ nhân dân.

Mặc dù QLNN có nguồn gốc từ nhân dân, thuộc về nhân dân và người dân chính là người chủ của QLNN, nhưng không thể mọi người dân đều có thể cùng trực tiếp thực thi QLNN mà họ phải trao nó cho một tổ chức đại diện cho toàn xã hội – đó là nhà nước – để thực thi QLNN. Và thực tiễn tổ chức thực thi QLNN ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, ở các nhà nước, các chính thể khác nhau cũng có nhiều khác biệt. Ở chính thể cộng hòa tổng thống thì việc tổ chức thực thi QLNN dựa trên thuyết phân chia quyền lực một cách tuyệt đối giữa ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp; các chính thể cộng hòa đại nghị, về cơ bản cũng dựa trên học thuyết phân quyền nhưng mềm dẻo hơn trong phối hợp thực thi giữa quyền hành pháp và quyền lập pháp; ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) cũ theo mô hình chính thể Xô Viết (cộng hòa Xô Viết) thì QLNN là thống nhất, không phân chia, được tập trung ở cơ quan đại diện tối cao (Xô Viết tối cao – Quốc hội).

Ở Việt Nam, ngay từ khi chúng ta có chính thể Cộng hòa dân chủ nhân dân đầu tiên, bắt đầu bằng sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945 cho đến nay, việc tổ chức thực thi QLNN đều dựa trên nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân, mặc dù cách diễn đạt nguyên tắc này có thể khác nhau. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua hệ thống các cơ quan đại diện do nhân dân bầu ra. QLNN là thống nhất, không phân chia nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Tất cả các bản Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980 và 1992) đều cơ bản thể hiện nguyên tắc thực thi QLNN nói trên. Điều 2 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả QLNN thuộc về nhân dân… QLNN là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước (CQNN) trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Quy định của Điều 2 Hiến pháp 1992 nói trên có bốn điểm vô cùng quan trọng đó là: Khẳng định Nhà nước ta là NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Tất cả QLNN thuộc về nhân dân; QLNN là thống nhất; Có sự phân công và phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Cùng với quy định tại Điều 2 nói trên, Điều 83 Hiến pháp 1992 quy định “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan QLNN cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”; Điều 109 quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”; Điều 127 ghi nhận: Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Như vậy, các quy định trên đây của Hiến pháp 1992 đã xác định rõ vị trí, vai trò của các cơ quan: Quốc hội được phân công thực thi quyền lập pháp; Chính phủ được phân công thực thi quyền hành pháp; còn Tòa án được phân công thực thi quyền tư pháp.

Tuy nhiên, theo chúng tôi, ngoại trừ việc khẳng định Nhà nước ta là NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thì cả ba vấn đề còn lại đều cần phải được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ cả về bản chất cũng như mục tiêu. Xin được phân tích như sau:

Thứ nhất, khẳng định tất cả QLNN thuộc về nhân dân. Quy định này theo chúng tôi là đúng nhưng chưa đủ. Vì về bản chất, trong NNPQ thì mọi quyền lực trong xã hội đều thuộc về nhân dân, bắt nguồn từ nhân dân. Khái niệm QLNN chỉ là một loại quyền lực gắn với bộ máy công quyền – Nhà nước, không phải là tất cả mọi quyền lực trong xã hội. Từ đó, Điều 6 Hiến pháp 1992 quy định “Nhân dân sử dụng QLNN thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân…” điều này đúng ở khía cạnh thực thi QLNN nhưng chưa đủ ở khía cạnh quyền lực xã hội nói chung. Vì thế, đây chính là sự thiếu hụt của Hiến pháp 1992, và chính sự thiếu hụt này đã làm giảm quyền lực của nhân dân, giảm vai trò của nhân dân trong thụ hưởng cũng như thực thi mọi quyền lực trong xã hội, đặc biệt là các quyền dân chủ trực tiếp. Không phải ngẫu nhiên, cả ba bản Hiến pháp trước đó (1946, 1959, 1980), đặc biệt là ngay từ Hiến pháp năm 1946 đều khẳng định “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam” chứ không phải chỉ có QLNN; Hiến pháp của các nước có NNPQ phát triển cũng khẳng định mọi quyền lực thuộc về nhân dân.

Theo chúng tôi, nên nghiên cứu sửa đổi nội dung này của Hiến pháp 1992 theo hướng: mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Để bảo đảm rằng, nhân dân là người chủ đích thực của đất nước, mọi điều đều phụ thuộc ở nơi dân. Còn QLNN cũng là một thứ quyền lực được bắt nguồn từ quyền lực nhân dân, và Nhà nước – với tư cách là một bộ máy quyền lực công thì được trao thực thi QLNN – đó cũng chính là một cách để thực thi quyền lực của nhân dân2.

 Leave a Reply

(Cần có)

(Cần có)

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>